⭐️Nhấp vào liên kết https://temu.to/k/uqlwz2gku6j để nhận gói giảm giá $ ₫1.500.000 hoặc ⭐️Tìm kiếm ach735692 trên ứng dụng Temu để nhận chiết khấu $ 30%!! |
Trẻ bị bạch hầu dễ tử vong
⭐️Nhấp vào liên kết https://temu.to/k/uqlwz2gku6j để nhận gói giảm giá $ ₫1.500.000 hoặc ⭐️Tìm kiếm ach735692 trên ứng dụng Temu để nhận chiết khấu $ 30%!! |
Bạch hầu là một bệnh nhiễm khuẩn - nhiễm độc cấp tính, gây dịch. Bệnh có tiên lượng nặng, tỷ lệ biến chứng và tử vong rất cao nên điều quan trọng nhất để giảm tác hại của nó là phát hiện, xử trí sớm.
Tác nhân gây bệnh là trực khuẩn Corynebacterium diphteriae. Chúng có sức sống tương đối cao và có khả năng sinh ngoại độc tố. Trong đờm, nước bọt, nước mũi, màng giả đã khô hoặc dính vào quần áo, vi khuẩn có thể sống được 5-10 ngày; dưới ánh nắng mặt trời chúng sống được 2 giờ; ở nhiệt độ thường là 5 tháng. Với sức nóng 58 độ C, vi khuẩn bị chết sau 5 phút, ở 60 độ C sau 3 phút. Với các chất sát khuẩn thông thường, vi khuẩn bị diệt nhanh.
Tổn thương đầu tiên xuất hiện ở hầu họng, thanh quản, mũi là màng giả; cũng có thể thấy màng giả ở mắt, da, bộ phận sinh dục. Nguồn lây chủ yếu là người ốm và người lành mang khuẩn. Người ốm làm lây bệnh mạnh nhất trong thời kỳ đầu và có thể mang khuẩn từ vài tháng đến vài năm. Bệnh lan truyền chủ yếu qua đường hô hấp do hít phải những giọt nước bọt nhỏ li ti từ trẻ ốm khi chúng khóc, ho, hắt hơi hoặc do dùng chung khăn mặt, quần áo, sách vở, đồ chơi, thức ăn; cũng có thể do hít phải những hạt bụi có chứa vi khuẩn bạch hầu lơ lửng trong không khí.
Bệnh xảy ra quanh năm, có thể gây ra những vụ dịch nhỏ về mùa rét. Mọi lứa tuổi đều có thể bị bệnh bạch hầu nếu chưa được tiêm phòng, nhưng đa số là trẻ dưới 15 tuổi, nhất là trẻ 1-9 tuổi. Bệnh cảnh lâm sàng thường gặp là bạch hầu thể thường, bạch hầu thanh quản và bạch hầu ác tính. Chính độc tố bạch hầu là thủ phạm gây nhiễm độc.
Với bạch hầu thể thường (hay thể họng - amiđan), ban đầu trẻ chỉ sốt nhẹ, biếng ăn, quấy khóc, không chịu chơi. Có thể trẻ có một vài biểu hiện làm ta nghĩ đến bệnh như: mệt mỏi, da xanh nhẹ, sổ mũi nước trong ở một bên, họng hơi đỏ, amiđan sưng, cực trên của amiđan có thể đã có màng trắng mờ hoặc những chấm trắng rất nhỏ, nổi hạch dưới hàm.
Nếu được phát hiện và điều trị ngay, bệnh sẽ khỏi nhanh và không có biến chứng. Nếu không, chỉ 2-3 ngày sau, màng giả đã xuất hiện ở trên mặt amiđan rồi lan rất nhanh sang amiđan bên kia. Chỉ sau vài giờ hoặc vài ngày, khắp họng đã bị phủ một màng trắng ngà hoặc trắng xám, dính chặt vào lớp niêm mạc bên dưới và có xu hướng lan rộng rất nhanh; nếu bóc dễ gây chảy máu. Tình trạng toàn thân mỗi lúc một nặng. Trẻ mệt mỏi, chỉ muốn nằm, da xanh tái, nuốt đau, sổ mũi nhiều, nước mũi có lẫn mủ, mạch nhanh, nhỏ, huyết áp hạ. Nếu VA cũng sưng, trẻ sẽ bị tắc mũi, khó thở.
Việc điều trị lúc này có nhiều khó khăn. Tuy vậy, nếu được điều trị tốt, màng giả sẽ rụng hết sau 24-48 giờ; các triệu chứng khác giảm dần rồi hết. Trẻ lại sức dần. Những trường hợp nặng màng giả bong chậm, có khi sau 5 ngày màng giả vẫn còn, tình trạng nhiễm độc nặng hơn, đến ngày thứ 10-15, trẻ có thể bị liệt hoặc chuyển thành bạch hầu thanh quản hoặc bạch hầu ác tính. Trẻ có thể bị chết bất chợt vì suy tim hoặc ngạt thở và nhiễm độc toàn thân nặng. Một số trường hợp bị liệt màn hầu, liệt chân, liệt một số dây thần kinh sọ não, viễn thị. Nếu liệt màn hầu, trẻ sẽ bị sặc, nói khẽ và nói giọng mũi; không làm được động tác thổi lửa hay huýt sáo; nghe hơi kém, ngủ ngáy vì lưỡi gà thõng xuống.
Bạch hầu thanh quản thường tiếp theo sau bạch hầu thể thường do bệnh được phát hiện và điều trị không kịp thời. Bệnh diễn biến qua ba giai đoạn: khàn tiếng, khó thở và ngạt thở. Ban đầu trẻ chỉ sốt nhẹ, hơi khàn tiếng, húng hắng ho nhưng sau đó biến chuyển rất nhanh. Trẻ bị khàn giọng, mất tiếng, tiếng ho nghe ông ổng. Một vài ngày sau sẽ xuất hiện khó thở. Ban đầu trẻ khó thở về tối và đêm, sau tăng dần, khó thở từng cơn khi bị kích thích, thỉnh thoảng lại thở rít lên và co rút. Từ khó thở vào, khó thở chậm, có tiếng rít, lõm trên xương ức, dần dần trẻ khó thở cả hai thì, hít vào nặng nhọc và thở ra khó khăn. Cứ như thế, rồi trẻ xỉu dần đi, nằm yên không vật vã tưởng chừng bệnh đỡ. Nếu không mở khí quản kịp thời, trẻ sẽ tử vong vì ngạt thở.
Bạch hầu ác tính thường tiếp sau bạch hầu thể thường vài ngày do bệnh không được điều trị kịp thời. Nếu tiên phát, bệnh thường nặng hơn. Triệu chứng nổi bật của thể này vẫn là màng giả và tình trạng nhiễm độc toàn thân. Màng giả lan khắp họng, dày, sần sùi, màu vàng đen hoặc có máu. Miệng hôi, nói giọng mũi. Trẻ bị chảy mũi, nước mũi có mủ loãng lẫn máu. Lỗ mũi bị loét và có thể có màng giả. Hạch dưới hàm sưng to làm cổ bạnh ra, khó nuốt, đôi khi bị sặc. Vào ngày thứ sáu của bệnh, màn hầu thường bị liệt. Trẻ mệt lử, da xanh tái, nổi ban, đổ máu cam; có trẻ bị nôn ra máu, chảy máu dưới da, mạch nhanh, không đều, huyết áp hạ, gan to; môi và đầu ngón chân, tay tím. Thường trẻ tử vong sau 24-36 giờ hoặc 1 tuần vì suy tim và suy thận. Một số trường hợp kéo dài được tới 30-50 ngày nhưng trẻ vẫn có nguy cơ chết bất chợt.
Trẻ bị bạch hầu là phải được theo dõi, chăm sóc và điều trị tại bệnh viện truyền nhiễm hoặc khoa truyền nhiễm để có điều kiện cách ly và hồi sức cấp cứu. Bệnh có thuốc kháng sinh đặc trị (penicillin và huyết thanh kháng độc tố bạch hầu). Nếu được phát hiện trước 48 giờ và chưa có biến chứng, được điều trị và chăm sóc tốt, trẻ sẽ khỏi. Nên điều trị ngay khi có màng giả chứ không chờ kết quả xét nghiệm. Ở gia đình, các vườn trẻ, lớp mẫu giáo, khi thấy trẻ có hiện tượng viêm mũi, viêm họng, da hơi xanh, vẻ mệt mỏi, cần cho khám bệnh ngay.
Trẻ bị bệnh phải được nghỉ ngơi tuyệt đối, theo dõi trong 55 ngày. Nếu cho ra viện sớm trước ngày thứ 30, cần dặn bệnh nhân hạn chế vận động, đi lại, tránh thay đổi tư thế đột ngột để phòng trụy tim mạch. Buồng dành cho người bệnh phải bảo đảm yên tĩnh, sạch sẽ, ấm và không có gió lùa. Chỉ ngừng cách ly bệnh nhân sau khi đã cấy chất ngoáy họng hai lần mà không tìm thấy vi khuẩn gây bệnh; và chỉ cho ra viện khi đã sạch vi khuẩn.
Cho trẻ ăn nhẹ, dễ tiêu, có đủ chất, đủ năng lượng; tránh để sặc. Ở giai đoạn bệnh toàn phát, cần cho trẻ uống nhiều nước, ăn nhẹ (sữa, cháo), ăn nhiều quả tươi. Hằng ngày nhỏ mũi thuốc sát khuẩn, cho trẻ súc miệng nước muối; chú ý vệ sinh cá nhân, súc miệng nước muối, lau sạch da dẻ, xoay trở người đề phòng loét.
Đồ chơi, đồ dùng của trẻ ốm phải được đun sôi hoặc ngâm 15 phút trong dung dịch clorua vôi 1% hay dung dịch cloramin 1%. Quần áo, khăn mặt, khăn mùi xoa... cũng phải được luộc hoặc ngâm trong dung dịch cloramin 2% hoặc 3%. Buồng bệnh phải được quét vôi lại, cọ rửa sàn nhà bằng cloramin 2% hoặc sữa vôi 20%.
Các cháu trong gia đình hoặc cùng trong một vườn trẻ, lớp học phải được cách ly và theo dõi trong 7 ngày kể từ khi đưa trẻ ốm đi bệnh viện. Sau 7 ngày, nếu trẻ vẫn khỏe mạnh, không có triệu chứng viêm họng mới được ngừng cách ly. Ngược lại, nếu trẻ bị viêm họng, sổ mũi cần cho đi khám bệnh ngay.
Bệnh đã có vacxin phòng ngừa hiệu quả. Các bậc cha mẹ cần quan tâm cho trẻ đi tiêm chủng đầy đủ theo đúng lịch: mũi 1 khi trẻ được 2 tháng tuổi, mũi 2 khi 3 tháng tuổi và mũi cuối cùng sau đó 1 tháng.
BS Nguyễn Long Châu, Sức Khỏe & Đời Sống
⭐️Nhấp vào liên kết https://temu.to/k/uqlwz2gku6j để nhận gói giảm giá $ ₫1.500.000 hoặc ⭐️Tìm kiếm ach735692 trên ứng dụng Temu để nhận chiết khấu $ 30%!! |
- Virus adeno hay Adenovirus gây bệnh gì ở trẻ em
- 'Trẻ hay ốm, chậm lớn có thể do thiếu sắt và kẽm'
- Những yếu tố có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tự kỷ?
- Hỏi đáp bệnh xoang ở trẻ: Trẻ em có bị viêm xoang?
- Trẻ hay giật tóc có phải mắc chứng rối loạn tâm lý?
- Nhận biết bằng mắt thường 8 dấu hiệu tự kỷ ở trẻ cha mẹ cần biết
- Hẹp bao quy đầu có thể gây ung thư
- Chăm sóc bé bị hẹp bao quy đầu
- Hàng loạt bé trai Hà Nội dưới 5 tuổi dễ trở thành vô sinh
- Cảnh báo bệnh nguy hiểm trẻ dễ mắc mùa hè
Sức khỏe đời sống
- Thuốc và sức khỏe
- Dinh dưỡng
- Thế giới tâm linh
- Đông tây y kết hợp
- Vắc xin tiêm phòng bệnh
- Thuốc tây y
- Bệnh viện - Trung tâm y tế
- Vệ sinh an toàn thực phẩm - Dược Phẩm
- Món Ăn Ngon Lại Còn Chữa Bệnh
- Món chay ngon
- Những bài văn khấn thông dụng
- Thực phẩm Hữu Cơ Organic
- Phật Pháp và Cuộc Sống
- Nhà Thuốc Đông Y Việt Nam
- Hỏi đáp thắc mắc
- Những vị thuốc nam Y học Cổ truyền Việt Nam
- Kiến thức Làm đẹp
- Đông y trị bệnh
- Vận mệnh năm 2020
Bài thuốc nam chữa bệnh
-
Tổng hợp những cây thuốc nam, cây thảo dược trị bệnh tiểu đường
- Bài thuốc ngâm rượu: Cách chọn bài thuốc ngâm rượu phù hợp với cơ địa từng người
- Những bài thuốc đông y chữa bệnh khó có thai
- Những bài thuốc Đông y chữa bệnh mất ngủ, đau đầu
- 17 Bài thuốc đông y dễ làm chữa bệnh hôi nách hiệu quả tận gốc
- Những món ăn bài thuốc Nam y chữa bệnh Viêm gan hiệu quả
- Những bài thuốc Nam chữa bệnh hiệu quả từ lá, quả, vỏ và rễ cây Nhàu
- Những Bài thuốc đông y chữa viêm Viêm loét dạ dày, tá tràng hiệu quả
- Những bài thuốc đông y trị viêm xoang, viêm xoang mạn tính, hiệu quả nhất
- Những Bài thuốc đông y chữa viêm amidan hiệu quả nhất dùng cho người lớn và trẻ em
Bệnh ung thư
- Bệnh ung thư vú
- Bệnh ung thư máu
- Ung thư vòm họng
- Ung thư dạ dày
- Ung thư gan
- Bệnh Ung Thư ở Trẻ Em
- Ung thư và sản phẩm tự nhiên
- Những phát hiện mới về bệnh Ung Thư
Cây thuốc Nam
- Cây Kê Huyết Đằng
- Cây Bồ Công Anh
- Sâm Ngọc Linh
- Cây Tam Thất
- Nấm Linh Chi
- Cây Kim Ngân Hoa
- Cây cỏ xước
- Cây Thiên Môn
- Cây gai
- Cây địa hoàng
- Đông trùng hạ thảo
- Cam thảo nam hay Cam thảo đất
- Nghiên cứu Dược Liệu
- Cây Hà Thủ Ô
Bệnh thường gặp
- Ung thư
- Vô sinh
- Bệnh trẻ em
- Bệnh truyền nhiễm
- Tai mũi họng
- Bệnh bướu cổ
- Bệnh sỏi thận
- Bệnh viêm xoang
- Bệnh Thần kinh
- Bệnh tim mạch
- Kiến thức chăm sóc bé
- Bệnh khớp - Viêm khớp
- Bệnh về đường hô hấp ở trẻ em
- Bệnh về tiêu hóa ở trẻ em
- Bệnh tay chân miệng ở trẻ em
- Bệnh trĩ
- Bệnh tiểu đường
- Bệnh gut - gout
- Bệnh cao huyết áp
- Bệnh Gan- Viêm gan
- Bệnh AIDS - SIDA - HIV
- Bệnh hen
- Bệnh ngoài da thường gặp
- Chữa bệnh mất ngủ tại nhà
- Kiến thức Phụ Nữ Sau Sinh cần biết
- Thai sản
- Các thuốc không dùng khi mang thai, cho con bú
-
Đình chỉ và thu hồi sản phẩm sữa rửa mặt Cleanser nhãn hàng Linh Chi Vàng VIP vì không đạt tiêu chuẩn chất lượng
- Thông báo thu hồi sản phẩm Kem bôi da Thuần Mộc không đạt tiêu chuẩn chất lượng
Tin mới đăng
-
Đình chỉ và thu hồi sản phẩm sữa rửa mặt Cleanser nhãn hàng Linh Chi Vàng VIP vì không đạt tiêu chuẩn chất lượng
- Thông báo thu hồi sản phẩm Kem bôi da Thuần Mộc không đạt tiêu chuẩn chất lượng
- Thu hồi toàn quốc Kem bôi mắt của Công ty TNHH MTV thương mại và xuất nhập khẩu Kỳ Phong chứa paraben
- Cục Quản Lý Dược Đình Chỉ Lưu Hành và Tiêu Hủy Mỹ Phẩm Không Đạt Chất Lượng Của Công Ty TNHH Xuất Nhập Khẩu Khang Thịnh
- Cảnh Giác với 'Thần Y' Khoác Áo Tu Hành
Cây thuốc quý
-
Cây Xạ Can, rẻ quạt, Tên khoa học, Thành phần hóa học, Tác dụng chữa bệnh của cây (Belamcanda sinensis)
- Cây Diệp hạ châu, Tên khoa học, Thành phần hóa học, tác dụng chữa bệnh của cây (Phyllanthus urinaria L)
- Cây Cà gai leo, Tên khoa học, Thành phần hóa học, tác dụng chữa bệnh của cây
- Cây Hoàng cầm, Tên khoa học, Thành phần hóa học, tác dụng chữa bệnh của cây
- Cây Hồng hoa, Rum, Tên khoa học, Thành phần hóa học, tác dụng chữa bệnh của cây
- Cây Hoàng cầm râu, Bán chi liên, Tên khoa học, Thành phần hóa học, tác dụng chữa bệnh của cây
- Cây Mạch môn đông, Tên khoa học, Thành phần hóa học, tác dụng chữa bệnh của cây
- Nấm Linh chi, Nấm lim - Ganoderma lucidum, tác dụng chữa bệnh của Nấm
- Cây Me rừng, Chùm ruột núi, Phyllanthus emblica L, và tác dụng chữa bệnh của cây
- Cây Hà thủ ô trắng, Dây sữa bò, Streptocaulon juventas và tác dụng chữa bệnh của cây
- Cây Hà thủ ô, Hà thủ ô đỏ, Polygonum multiflorum Thumb và tác dụng chữa bệnh của cây
- Cây Hàm ếch, Trầu nước, Saururus chinensis và tác dụng chữa bệnh của cây
Bạn cần biết
-
Nghe nhà sư giảng về nguồn gốc tâm linh của ung thư
- Mười công đức lớn của việc phát tâm in kinh Phật
- Chuỗi tràng hạt Phật giáo, nguồn gốc, ý nghĩa và công dụng
- Xem bộ tranh nhân quả báo ứng ai cũng nên xem để biết
- Miệng nói lời cay độc bao nhiêu, đời người bạc mệnh bấy nhiêu
- Quả báo kinh hãi mang đến cho tội tà dâm, Ngoại tình
- Tổng thống Obama gởi thông điệp Phật đản
- Vòng duyên nghiệp không ai có thể thoát
- Khổ đau, sinh tử cũng từ tâm
- Ý nghĩa tụng kinh Dược Sư và niệm Phật Dược Sư
- Ý Nghĩa Ngày Phật Đản - Vesak
- Ý nghĩa của việc cúng dường chư Phật
⭐️Nhấp vào liên kết https://temu.to/k/uqlwz2gku6j để nhận gói giảm giá $ ₫1.500.000 hoặc ⭐️Tìm kiếm ach735692 trên ứng dụng Temu để nhận chiết khấu $ 30%!! |
Trẻ bị bạch hầu dễ tử vong
⭐️Nhấp vào liên kết https://temu.to/k/uqlwz2gku6j để nhận gói giảm giá $ ₫1.500.000 hoặc ⭐️Tìm kiếm ach735692 trên ứng dụng Temu để nhận chiết khấu $ 30%!! |
Bạch hầu là một bệnh nhiễm khuẩn - nhiễm độc cấp tính, gây dịch. Bệnh có tiên lượng nặng, tỷ lệ biến chứng và tử vong rất cao nên điều quan trọng nhất để giảm tác hại của nó là phát hiện, xử trí sớm.
Tác nhân gây bệnh là trực khuẩn Corynebacterium diphteriae. Chúng có sức sống tương đối cao và có khả năng sinh ngoại độc tố. Trong đờm, nước bọt, nước mũi, màng giả đã khô hoặc dính vào quần áo, vi khuẩn có thể sống được 5-10 ngày; dưới ánh nắng mặt trời chúng sống được 2 giờ; ở nhiệt độ thường là 5 tháng. Với sức nóng 58 độ C, vi khuẩn bị chết sau 5 phút, ở 60 độ C sau 3 phút. Với các chất sát khuẩn thông thường, vi khuẩn bị diệt nhanh.
Tổn thương đầu tiên xuất hiện ở hầu họng, thanh quản, mũi là màng giả; cũng có thể thấy màng giả ở mắt, da, bộ phận sinh dục. Nguồn lây chủ yếu là người ốm và người lành mang khuẩn. Người ốm làm lây bệnh mạnh nhất trong thời kỳ đầu và có thể mang khuẩn từ vài tháng đến vài năm. Bệnh lan truyền chủ yếu qua đường hô hấp do hít phải những giọt nước bọt nhỏ li ti từ trẻ ốm khi chúng khóc, ho, hắt hơi hoặc do dùng chung khăn mặt, quần áo, sách vở, đồ chơi, thức ăn; cũng có thể do hít phải những hạt bụi có chứa vi khuẩn bạch hầu lơ lửng trong không khí.
Bệnh xảy ra quanh năm, có thể gây ra những vụ dịch nhỏ về mùa rét. Mọi lứa tuổi đều có thể bị bệnh bạch hầu nếu chưa được tiêm phòng, nhưng đa số là trẻ dưới 15 tuổi, nhất là trẻ 1-9 tuổi. Bệnh cảnh lâm sàng thường gặp là bạch hầu thể thường, bạch hầu thanh quản và bạch hầu ác tính. Chính độc tố bạch hầu là thủ phạm gây nhiễm độc.
Với bạch hầu thể thường (hay thể họng - amiđan), ban đầu trẻ chỉ sốt nhẹ, biếng ăn, quấy khóc, không chịu chơi. Có thể trẻ có một vài biểu hiện làm ta nghĩ đến bệnh như: mệt mỏi, da xanh nhẹ, sổ mũi nước trong ở một bên, họng hơi đỏ, amiđan sưng, cực trên của amiđan có thể đã có màng trắng mờ hoặc những chấm trắng rất nhỏ, nổi hạch dưới hàm.
Nếu được phát hiện và điều trị ngay, bệnh sẽ khỏi nhanh và không có biến chứng. Nếu không, chỉ 2-3 ngày sau, màng giả đã xuất hiện ở trên mặt amiđan rồi lan rất nhanh sang amiđan bên kia. Chỉ sau vài giờ hoặc vài ngày, khắp họng đã bị phủ một màng trắng ngà hoặc trắng xám, dính chặt vào lớp niêm mạc bên dưới và có xu hướng lan rộng rất nhanh; nếu bóc dễ gây chảy máu. Tình trạng toàn thân mỗi lúc một nặng. Trẻ mệt mỏi, chỉ muốn nằm, da xanh tái, nuốt đau, sổ mũi nhiều, nước mũi có lẫn mủ, mạch nhanh, nhỏ, huyết áp hạ. Nếu VA cũng sưng, trẻ sẽ bị tắc mũi, khó thở.
Việc điều trị lúc này có nhiều khó khăn. Tuy vậy, nếu được điều trị tốt, màng giả sẽ rụng hết sau 24-48 giờ; các triệu chứng khác giảm dần rồi hết. Trẻ lại sức dần. Những trường hợp nặng màng giả bong chậm, có khi sau 5 ngày màng giả vẫn còn, tình trạng nhiễm độc nặng hơn, đến ngày thứ 10-15, trẻ có thể bị liệt hoặc chuyển thành bạch hầu thanh quản hoặc bạch hầu ác tính. Trẻ có thể bị chết bất chợt vì suy tim hoặc ngạt thở và nhiễm độc toàn thân nặng. Một số trường hợp bị liệt màn hầu, liệt chân, liệt một số dây thần kinh sọ não, viễn thị. Nếu liệt màn hầu, trẻ sẽ bị sặc, nói khẽ và nói giọng mũi; không làm được động tác thổi lửa hay huýt sáo; nghe hơi kém, ngủ ngáy vì lưỡi gà thõng xuống.
Bạch hầu thanh quản thường tiếp theo sau bạch hầu thể thường do bệnh được phát hiện và điều trị không kịp thời. Bệnh diễn biến qua ba giai đoạn: khàn tiếng, khó thở và ngạt thở. Ban đầu trẻ chỉ sốt nhẹ, hơi khàn tiếng, húng hắng ho nhưng sau đó biến chuyển rất nhanh. Trẻ bị khàn giọng, mất tiếng, tiếng ho nghe ông ổng. Một vài ngày sau sẽ xuất hiện khó thở. Ban đầu trẻ khó thở về tối và đêm, sau tăng dần, khó thở từng cơn khi bị kích thích, thỉnh thoảng lại thở rít lên và co rút. Từ khó thở vào, khó thở chậm, có tiếng rít, lõm trên xương ức, dần dần trẻ khó thở cả hai thì, hít vào nặng nhọc và thở ra khó khăn. Cứ như thế, rồi trẻ xỉu dần đi, nằm yên không vật vã tưởng chừng bệnh đỡ. Nếu không mở khí quản kịp thời, trẻ sẽ tử vong vì ngạt thở.
Bạch hầu ác tính thường tiếp sau bạch hầu thể thường vài ngày do bệnh không được điều trị kịp thời. Nếu tiên phát, bệnh thường nặng hơn. Triệu chứng nổi bật của thể này vẫn là màng giả và tình trạng nhiễm độc toàn thân. Màng giả lan khắp họng, dày, sần sùi, màu vàng đen hoặc có máu. Miệng hôi, nói giọng mũi. Trẻ bị chảy mũi, nước mũi có mủ loãng lẫn máu. Lỗ mũi bị loét và có thể có màng giả. Hạch dưới hàm sưng to làm cổ bạnh ra, khó nuốt, đôi khi bị sặc. Vào ngày thứ sáu của bệnh, màn hầu thường bị liệt. Trẻ mệt lử, da xanh tái, nổi ban, đổ máu cam; có trẻ bị nôn ra máu, chảy máu dưới da, mạch nhanh, không đều, huyết áp hạ, gan to; môi và đầu ngón chân, tay tím. Thường trẻ tử vong sau 24-36 giờ hoặc 1 tuần vì suy tim và suy thận. Một số trường hợp kéo dài được tới 30-50 ngày nhưng trẻ vẫn có nguy cơ chết bất chợt.
Trẻ bị bạch hầu là phải được theo dõi, chăm sóc và điều trị tại bệnh viện truyền nhiễm hoặc khoa truyền nhiễm để có điều kiện cách ly và hồi sức cấp cứu. Bệnh có thuốc kháng sinh đặc trị (penicillin và huyết thanh kháng độc tố bạch hầu). Nếu được phát hiện trước 48 giờ và chưa có biến chứng, được điều trị và chăm sóc tốt, trẻ sẽ khỏi. Nên điều trị ngay khi có màng giả chứ không chờ kết quả xét nghiệm. Ở gia đình, các vườn trẻ, lớp mẫu giáo, khi thấy trẻ có hiện tượng viêm mũi, viêm họng, da hơi xanh, vẻ mệt mỏi, cần cho khám bệnh ngay.
Trẻ bị bệnh phải được nghỉ ngơi tuyệt đối, theo dõi trong 55 ngày. Nếu cho ra viện sớm trước ngày thứ 30, cần dặn bệnh nhân hạn chế vận động, đi lại, tránh thay đổi tư thế đột ngột để phòng trụy tim mạch. Buồng dành cho người bệnh phải bảo đảm yên tĩnh, sạch sẽ, ấm và không có gió lùa. Chỉ ngừng cách ly bệnh nhân sau khi đã cấy chất ngoáy họng hai lần mà không tìm thấy vi khuẩn gây bệnh; và chỉ cho ra viện khi đã sạch vi khuẩn.
Cho trẻ ăn nhẹ, dễ tiêu, có đủ chất, đủ năng lượng; tránh để sặc. Ở giai đoạn bệnh toàn phát, cần cho trẻ uống nhiều nước, ăn nhẹ (sữa, cháo), ăn nhiều quả tươi. Hằng ngày nhỏ mũi thuốc sát khuẩn, cho trẻ súc miệng nước muối; chú ý vệ sinh cá nhân, súc miệng nước muối, lau sạch da dẻ, xoay trở người đề phòng loét.
Đồ chơi, đồ dùng của trẻ ốm phải được đun sôi hoặc ngâm 15 phút trong dung dịch clorua vôi 1% hay dung dịch cloramin 1%. Quần áo, khăn mặt, khăn mùi xoa... cũng phải được luộc hoặc ngâm trong dung dịch cloramin 2% hoặc 3%. Buồng bệnh phải được quét vôi lại, cọ rửa sàn nhà bằng cloramin 2% hoặc sữa vôi 20%.
Các cháu trong gia đình hoặc cùng trong một vườn trẻ, lớp học phải được cách ly và theo dõi trong 7 ngày kể từ khi đưa trẻ ốm đi bệnh viện. Sau 7 ngày, nếu trẻ vẫn khỏe mạnh, không có triệu chứng viêm họng mới được ngừng cách ly. Ngược lại, nếu trẻ bị viêm họng, sổ mũi cần cho đi khám bệnh ngay.
Bệnh đã có vacxin phòng ngừa hiệu quả. Các bậc cha mẹ cần quan tâm cho trẻ đi tiêm chủng đầy đủ theo đúng lịch: mũi 1 khi trẻ được 2 tháng tuổi, mũi 2 khi 3 tháng tuổi và mũi cuối cùng sau đó 1 tháng.
BS Nguyễn Long Châu, Sức Khỏe & Đời Sống
⭐️Nhấp vào liên kết https://temu.to/k/uqlwz2gku6j để nhận gói giảm giá $ ₫1.500.000 hoặc ⭐️Tìm kiếm ach735692 trên ứng dụng Temu để nhận chiết khấu $ 30%!! |
- Virus adeno hay Adenovirus gây bệnh gì ở trẻ em
- 'Trẻ hay ốm, chậm lớn có thể do thiếu sắt và kẽm'
- Những yếu tố có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tự kỷ?
- Hỏi đáp bệnh xoang ở trẻ: Trẻ em có bị viêm xoang?
- Trẻ hay giật tóc có phải mắc chứng rối loạn tâm lý?
- Nhận biết bằng mắt thường 8 dấu hiệu tự kỷ ở trẻ cha mẹ cần biết
- Hẹp bao quy đầu có thể gây ung thư
- Chăm sóc bé bị hẹp bao quy đầu
- Hàng loạt bé trai Hà Nội dưới 5 tuổi dễ trở thành vô sinh
- Cảnh báo bệnh nguy hiểm trẻ dễ mắc mùa hè