ĐÔNG TÂY Y KẾT HỢP

Vì sức khỏe người Việt

  • Dịch vụ lập dự án của chúng tôi cung cấp giải pháp toàn diện cho mọi nhu cầu từ dự án dược liệu đến nông nghiệp. Với kinh nghiệm sâu rộng, chúng tôi đảm bảo lập ra các dự án hiệu quả, bền vững, hỗ trợ từ khâu nghiên cứu, phân tích đến thực thi. Liên hệ ngay để biến ý tưởng thành hiện thực!


    Chữa loạn nhịp tim theo cổ truyền

    Hạt giống giá tốt đủ chủng loại, giống tốt

    Y học cổ truyền quy chứng loạn nhịp tim vào chứng tâm quý (sợ, hồi hộp), chính xung (đau giữa tim), hung tý (đau hông sườn).

    Triệu chứng

    Bình thường nhịp đập của tim dao động trong khoảng 60-80 lần mỗi phút, tim đập đều. Nhưng do một nguyên nhân nào đó làm cho nhịp đập của tim tăng lên hay chậm lại, hoặc đập không đều gọi là loạn nhịp. Y học cổ truyền quy chứng loạn nhịp tim vào chứng tâm quý (sợ hãi), chinh xung (đau chính giữa), hung tý (đau hông sườn). Mỗi thể bệnh có những triệu chứng như sau:

    Thể khí âm lưỡng hư thì có triệu chứng người mệt mỏi, ra mồ hôi nhiều, hồi hộp, đánh trống ngực, ăn uống ít, bụng đầy, người bứt rứt, khó ngủ hoặc ngủ hay mơ không ngon giấc. Thể âm hư hỏa vượng thì có triệu chứng hồi hộp, khó ngủ, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, nhức mỏi lưng... Thể tâm tỳ đều hư thì người mệt mỏi, sắc mặt không tươi, ăn uống ít, hồi hộp, mất ngủ, hay quên, hoa mắt... Thể tỳ thận dương hư: da khô kém tươi nhuận, phù toàn thân, người mệt mỏi, sắc mặt tái, các khớp đau nhức, lưng gối đau mỏi, ăn uống kém...

    Điều trị

    Theo lương y Phạm Như Tá (TP.HCM), với thể khí âm lưỡng hư thì phép trị là "bổ khí, dưỡng âm", dùng bài thuốc gồm các vị: mạch môn, nhân sâm, sinh địa (cùng 12g), huỳnh kỳ (chích mật), tiểu mạch (cùng 16g), chích cam thảo 8g, và 4 trái táo. Nếu có mất ngủ thì thêm sao táo nhân (16-20g), bá tử nhân 12g. Còn ở thể âm hư hỏa vượng thì phép trị là "tư âm, giáng hỏa", bài thuốc thường được dùng là "thiên vương bổ tâm đơn gia giảm", gồm các vị: sinh địa, phục thần, bá tử nhân, táo nhân (cùng 16g) đảng sâm, đơn sâm, huyền sâm, thiên ma, quy đầu (cùng 12g), viễn chí, kiết cánh (cùng 8g), mạch môn 20g, ngũ vị 4g.

    Phép trị ở thể tâm tỳ đều hư là "ích khí, dưỡng huyết", bài thuốc thường dùng là "quy tỳ thang gia giảm", gồm các vị: đương quy, bạch truật (sao cám hoặc gạo), nhãn nhục (cùng 12g), đảng sâm, huỳnh kỳ (cùng 16g), chích cam thảo 4g, phục thần 10g, viễn chí, táo nhân (sao đen) - cùng 8g, mộc hương 6g, thục địa 20g, sinh khương 5g, và 3 trái táo.

    Còn phép trị thể tỳ thận dương hư là "ôn bổ tỳ thận", dùng bài "phụ tứ lý trung thang gia giảm", với những vị: đảng sâm, phục linh, bạch truật, bạch thược (cùng 12g), phụ tử 10g, chích thảo 8g, nhục quế 4g.

    Cách sắc (nấu) những bài thuốc trên như sau: nước thứ nhất cho các vị thuốc vào 4 chén nấu còn 1 chén, cho nước thuốc ra. Nước nhì cho 3 chén nước vào tiếp nấu còn nửa chén. Hòa hai nước lại chia làm 3 lần dùng trong ngày.

    Theo Thanh Nien

     


    Sức khỏe đời sống


    Bài thuốc nam chữa bệnh


    Bệnh ung thư


    Cây thuốc Nam


    Bệnh thường gặp



    Tin mới đăng

    Cây thuốc quý

    Bạn cần biết

  • Dịch vụ lập dự án của chúng tôi cung cấp giải pháp toàn diện cho mọi nhu cầu từ dự án dược liệu đến nông nghiệp. Với kinh nghiệm sâu rộng, chúng tôi đảm bảo lập ra các dự án hiệu quả, bền vững, hỗ trợ từ khâu nghiên cứu, phân tích đến thực thi. Liên hệ ngay để biến ý tưởng thành hiện thực!


    Chữa loạn nhịp tim theo cổ truyền

    Hạt giống giá tốt đủ chủng loại, giống tốt

    Y học cổ truyền quy chứng loạn nhịp tim vào chứng tâm quý (sợ, hồi hộp), chính xung (đau giữa tim), hung tý (đau hông sườn).

    Triệu chứng

    Bình thường nhịp đập của tim dao động trong khoảng 60-80 lần mỗi phút, tim đập đều. Nhưng do một nguyên nhân nào đó làm cho nhịp đập của tim tăng lên hay chậm lại, hoặc đập không đều gọi là loạn nhịp. Y học cổ truyền quy chứng loạn nhịp tim vào chứng tâm quý (sợ hãi), chinh xung (đau chính giữa), hung tý (đau hông sườn). Mỗi thể bệnh có những triệu chứng như sau:

    Thể khí âm lưỡng hư thì có triệu chứng người mệt mỏi, ra mồ hôi nhiều, hồi hộp, đánh trống ngực, ăn uống ít, bụng đầy, người bứt rứt, khó ngủ hoặc ngủ hay mơ không ngon giấc. Thể âm hư hỏa vượng thì có triệu chứng hồi hộp, khó ngủ, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, nhức mỏi lưng... Thể tâm tỳ đều hư thì người mệt mỏi, sắc mặt không tươi, ăn uống ít, hồi hộp, mất ngủ, hay quên, hoa mắt... Thể tỳ thận dương hư: da khô kém tươi nhuận, phù toàn thân, người mệt mỏi, sắc mặt tái, các khớp đau nhức, lưng gối đau mỏi, ăn uống kém...

    Điều trị

    Theo lương y Phạm Như Tá (TP.HCM), với thể khí âm lưỡng hư thì phép trị là "bổ khí, dưỡng âm", dùng bài thuốc gồm các vị: mạch môn, nhân sâm, sinh địa (cùng 12g), huỳnh kỳ (chích mật), tiểu mạch (cùng 16g), chích cam thảo 8g, và 4 trái táo. Nếu có mất ngủ thì thêm sao táo nhân (16-20g), bá tử nhân 12g. Còn ở thể âm hư hỏa vượng thì phép trị là "tư âm, giáng hỏa", bài thuốc thường được dùng là "thiên vương bổ tâm đơn gia giảm", gồm các vị: sinh địa, phục thần, bá tử nhân, táo nhân (cùng 16g) đảng sâm, đơn sâm, huyền sâm, thiên ma, quy đầu (cùng 12g), viễn chí, kiết cánh (cùng 8g), mạch môn 20g, ngũ vị 4g.

    Phép trị ở thể tâm tỳ đều hư là "ích khí, dưỡng huyết", bài thuốc thường dùng là "quy tỳ thang gia giảm", gồm các vị: đương quy, bạch truật (sao cám hoặc gạo), nhãn nhục (cùng 12g), đảng sâm, huỳnh kỳ (cùng 16g), chích cam thảo 4g, phục thần 10g, viễn chí, táo nhân (sao đen) - cùng 8g, mộc hương 6g, thục địa 20g, sinh khương 5g, và 3 trái táo.

    Còn phép trị thể tỳ thận dương hư là "ôn bổ tỳ thận", dùng bài "phụ tứ lý trung thang gia giảm", với những vị: đảng sâm, phục linh, bạch truật, bạch thược (cùng 12g), phụ tử 10g, chích thảo 8g, nhục quế 4g.

    Cách sắc (nấu) những bài thuốc trên như sau: nước thứ nhất cho các vị thuốc vào 4 chén nấu còn 1 chén, cho nước thuốc ra. Nước nhì cho 3 chén nước vào tiếp nấu còn nửa chén. Hòa hai nước lại chia làm 3 lần dùng trong ngày.

    Theo Thanh Nien

     


    Quảng cáo 336x280